Luận văn thạc sĩ - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng nhằm mục đích giảm nghèo của đồng bào dân tộc m’nông tỉnh đak nông

Kết quả 1 đến 5 của 5

THẠC SĨ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng nhằm mục đích giảm nghèo của đồng bào dân tộc m’nông tỉnh đak nông

  1. #1
    Chuyên mục: KINH TẾ Mã số tài liệu: 26474
    Thể loại: Luận văn thạc sĩ - Hỗ trợ:  Hỗ trợ viên
    Giá: 30,000 đ Người bán: Đình Huy Đang Ngoại tuyến
    0902.365.878Giờ hành chính
    • TẢI VỀ (1.33 MB, 33 lượt tải)

  2. Giới thiệu tài liệu Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng nhằm mục đích giảm nghèo của đồng bào dân tộc m’nông tỉnh đak nông

    1. Đặt vấn đề


    Đak Nông là một tỉnh miền núi nằm ở phía Nam Tây Nguyên, phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Đak Lak, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Nam giáp tỉnh Bình Phước, phía Tây giáp nước Campuchia với 130 km đườngbiên giới. Diện tích tự nhiên 6.514,38 km2, dân số 431.005 người. Về địa giới hành chính hiện nay có 7 huyện, 1 thị xã, trong đó có 71 xã, phường, thị trấn. Trên địa bàn tỉnh có 29 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số 139.865 người, chiếm 32,45% dân số toàn tỉnh. Dân tộc thiểu số tại chỗ có 49.300 người gồm các dân tộc: Mạ, M’Nông, Ê Đê, chiếm 11,44% dân số toàn tỉnh. Người M’Nông là dân tộc thiểu số tại chỗ có số lượng lớn nhất, sinh sống lâu đời nhất ở tỉnh Đak Nông gồm 6.880 hộ với 37.221 khẩu, chiếm 8,64% dân số toàn tỉnh và chiếm 75,4% dân tộc ít người tại chỗ, sinh sống ở các địa bàn trên tất cả các huyện, thị xã của tỉnh. Kể từ ngày thành lập tỉnh (01/01/2004), tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Đak Nông đã có bước phát triển đáng kể về tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng thu ngân sách, giảm tỷ lệ hộ nghèo, tăng thu nhập bình quân đầu người. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, còn nhiều tồn tại yếu kém về một số mặt như việc triển khai xây dựng các công trình trọng điểm của tỉnh chậm, tình hình thu hút đầu tư còn hạn chế, tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp xây dựng, dịch vụ chậm, chương trình xoá đói giảm nghèo còn nhiều yếu kém và thiếu bền vững. Kết quả phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc còn nhiều hạn chế, đời sống của đồng bào dân tộc, nhất là đồng bào dân tộc tại chỗ chậm được cải thiện. Nhiều ngành chức năng chưa thực sự quan tâm và chưa làm hết trách nhiệm đối với chương trình giảm nghèo. Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chính sách hỗ trợ vay vốn và tiêu thụ sản phẩm của một số doanhnghiệp cho nông dân còn hạn chế, giá cả một số nông sản không ổn định, ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân làm cho việc thoát nghèo gặp nhiều khó khăn. Tỷ lệ hộ nghèo trong toàn tỉnh năm 2007 là 15,7%, tuy nhiên số hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số còn ở mức cao chiếm 31% số hộ nghèo trong toàn tỉnh, trong số đồng bào dân tộc ít người thì 46,51% số hộ còn ở mức nghèo; số hộ ở mức cận nghèo cao ( toàn tỉnh là 13.694 hộ, đồng bào dân tộc là 4.809 hộ, đồng bào dân tộc tại chỗ là 1.472 hộ), dẫn đến tình trạng thoát nghèo chưa thực sự vững chắc, tỷ lệ hộ tái nghèo còn cao.

    Ở những địa bàn dân tộc M’Nông sinh sống có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất các ngành nghề như trồng lúa nước, cây công nghiệp (cà phê, tiêu, cao su), kinh doanh nghề rừng, chăn nuôi trâu, bò, dê. Bên cạnh đó lực lượng lao động của họ tương đối dồi dào. Nhiều vùng dân cư đã tiếp cận sản xuất hàng hoá. Nhưng nhìn chung hiện nay đời sống của người M’Nông còn rất thấp, bình quân thu nhập đầu người năm 2007 khoảng 450 ngàn/người/tháng ( trong đó 50% thu nhập dưới 200 ngàn/người/tháng), trong khi thu nhập bình quân chung cả tỉnh năm 2007 là 824 ngàn đồng/người/tháng.

    Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo của dân tộc M’nông nêu trên như: trình độ dân trí thấp, thiếu vốn sản xuất, hiệu quả đầu tư từ các chương trình, dự án của Nhà nước chưa cao và chưa đúng trọng tâm. Nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng là người dân không thành công trong việc tiếp cận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sản xuất ( lao động, đất đai, vốn), đặc biệt là nguồn tín dụng khi họ tham gia vào nền kinh tế thị trường. Theo kết quả điều tra năm 2004 của Viện Khoa học lao động kết hợp với khảo sát của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, thiếu vốn sản xuất và đặc biệt sử dụng vốn không hiệu quả là nguyên nhân ảnh hưởng tới 79% số hộ nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo chưa tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng của khu vực chính thức ở Việt Nam tính đến nay chiếm khoảng 28% trong số những hộ nghèo thiếu vốn. Hiện nay chúng ta chưa có những điều tra tương tự ở vùng đồng bào dân tộc ít người ở Việt Nam nói chung và Tây Nguyên nòi riêng, nhưng chắc chắn là tỷ lệ hộ chưa tiếp cận được với các nguồn tín dụng của khu vực chính thức sẽ cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ hộ nghèo cả nước. Do đó, trong tiến trình phát triển kinh tế thị trường, tín dụng được coi là một trong những công cụ quan trọng để phát triển kinh tế cũng như giúp người nghèo thoát khỏi đói nghèo. Vì thế, vấn đề là làm sao để người nghèo, nhất là đồng bào dân tộc ít người ở vùng sâu, vùng xa có thể tiếp cận được nguồn tín dụng và sử dụng chúng một cách có hiệu quả là một vấn đề quan trọng đối với việc giảm nghèo.

    Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể và khách quan, bản thân vốn tín dụng chỉ là một công cụ thúc đẩy sản xuất phát triển và tăng thu nhập cho người nghèo. Công cụ này chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi hoạt động của nó phù hợp với đặc điểm, năng lực chuyển đổi kinh tế của người nghèo, nhất là vùng đồng bào dân tộc M’Nông còn tồn tại nhiều phong tục, tập quán lạc hậu, trình độ dân trí thấp. Do đó giải pháp về tín dụng phải được thực hiện đồng bộ với những giải pháp hỗ trợ khác và giải pháp về kinh tế xã hội.

    Do vậy, hệ thống các giải pháp về tín dụng, các giải pháp hỗ trợ tín dụng, giải pháp hỗ trợ về chính sách tạo môi trường thuận lợi nhằm giúp đồng bào dân tộc M’Nông nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng là một việc làm cần thiết, cần nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và các rào cản hạn chế người dân tiếp cận nguồn tín dụng, từ đó tìm ra các giải pháp giúp họ vay được vốn để đầu tư phát triển sản xuất, mở mang ngành nghề, nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống, nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nghèo như hiện nay.

    Hy vọng tài liệu Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng nhằm mục đích giảm nghèo của đồng bào dân tộc m’nông tỉnh đak nông sẽ giúp ích cho bạn
  3. #2
    K
    konpne Đang Ngoại tuyến Thành viên
    Ngày tham gia
    08-03-13
    Bài viết
    25
    Rất hữu ích!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!


  4. #3
    H
    huyxh Đang Ngoại tuyến Thành viên
    Ngày tham gia
    02-09-12
    Bài viết
    10
    Ôi thanks bạn!may quá, ko thì trễ hạn nộp bài ùi,hj


  5. #4
    S
    sohonguyendaica Đang Ngoại tuyến Thành viên
    Ngày tham gia
    22-11-12
    Bài viết
    32
    Chỉ cái card điện thoại 20k mà tải được tận 100 tài liệu


  6. #5
    C
    changtrai8x_1986 Đang Ngoại tuyến Thành viên
    Ngày tham gia
    04-08-12
    Bài viết
    5
    Nội dung chuẩn


Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)