Tài liệu Học tốt ngữ văn 11 nâng cao (tập một)

Trang 1 của 2 12 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 12

TÀI LIỆU Học tốt ngữ văn 11 nâng cao (tập một)

  1. #1
    Chuyên mục: NGOẠI NGỮ Mã số tài liệu: 87704
    Thể loại: Tài liệu Hỗ trợ:  Hỗ trợ viên
    Giá: 10,000 đ Người bán: xuanbinh Đang Ngoại tuyến
    0902.365.878Giờ hành chính
    • TẢI VỀ (1.24 MB, 15 lượt tải)

  2. Giới thiệu tài liệu Học tốt ngữ văn 11 nâng cao (tập một)

    HỌC TỐT NGỮ VĂN 11
    NÂNG CAO

    (TẬP MỘT)

    LỜI NÓI ĐẦU


    VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH

    (Trích Thượng kinh kí sự)
    Lê Hữu Trác
    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
    1. Thể loại: Kí là một thể văn xuôi tự sự khá phát triển từ thời kì văn học trung đại. Tác phẩm kí thường có cốt truyện là sự thực cuộc sống. Người viết kí trung thành với sự thật, khai thác sự thật theo quan điểm cá nhân. Kí là thể văn xuôi tự sự có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sự thực lịch sử và cảm xúc của người viết.
    2. Lê Hữu Trác (1720 - 1791) là người làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc Yên Mĩ, Hưng Yên. Thượng kinh kí sự là tập kí sự bằng chữ Hán của ông. Tập kí ghi lại chuyện tác giả lên kinh đô chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán và chúa Trịnh Sâm từ ngày 12 tháng Giêng năm Nhâm Dần (1782) đến ngày trở về Hương Sơn ngày 2 tháng 11 năm đó.
    Tác giả đang sống cuộc sống ẩn dật ở quê mẹ (Hương Sơn, Hà Tĩnh) thì có chỉ triệu ra Kinh chữa bệnh cho cha con chúa Trịnh Sâm. Tác giả miễn cưỡng lên kinh. Ông đã ghi lại cảnh sắc thiên nhiên đất nước và cả những tâm sự của bản thân trên đường đi. Đến kinh, vào khám bệnh, tác giả đã ghi lại tỉ mỉ quang cảnh Kinh đô và cảnh trong phủ chúa. Ông cũng ghi lại những cuộc gặp gỡ giao du của mình với công khanh nho sĩ chốn kinh thành. Ở kinh đô ông luôn thương nhớ và mong trở về quê hương. Cuối cùng ông lên đường trở về quê nhà với tâm trạng hân hoan, ung dung. Về đến nhà được vài ngày, ông nhận được tin phủ chúa đã bị kiêu binh nổi loạn tràn vào phá phách, quan Chánh đường Hoàng Đình Bảo oai phong là thế đã bị kiêu binh giết chết.
    3. Vào phủ chúa Trịnh là một đoạn trích đặc sắc của tác phẩm. Nó đã thể hiện khá đầy đủ những nét riêng trong cách viết kí của Lê Hữu Trác. Đoạn trích đã tái hiện chi tiết hành trình tác giả vào phủ Chúa để khám bệnh cho thế tử. Thế nhưng nội dung kể chuyện không đơn giản là tường thuật một cuộc khám bệnh.
    Qua đoạn trích, tác giả đã tái hiện một phần bộ mặt xã hội phong kiến Việt Nam thời kì vua Lê chúa Trịnh. Triều định phong kiến nhà Lê đã đến ngày suy vong. Và chốn phủ chúa cũng đầy biểu hiện bệnh hoạn.
    II. RÈN KĨ NĂNG

    1. Trong đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh”, tác giả đã dùng 4 lần từ thánh chỉ, ba lần chữ thánh thượng, và một lần chữ thánh thể. Các từ này được dùng chỉ chúa Trịnh Sâm (thánh chỉ, thánh thượng), và thế tử Trịnh Cán (thánh thể). Từ thánh vốn chỉ được dùng để chỉ vua, người có quyền lực cao nhất thời phong kiến. Việc dùng từ này để chỉ chúa Trịnh, tác giả đã ngầm nói rằng nhà Trịnh đã quá lộng quyền. Tác giả dùng cách nói này để mỉa mai, châm biếm chúa Trịnh và sự bù nhìn bạc nhược của nhà Lê.
    2. Đội quân phục vụ trong phủ chúa Trịnh vô cùng đông đảo, từ quan Chánh đường Hoàng Đình Bảo oai phong, các vị lương y của sáu cung hai viện đến kẻ hầu người hạ, vệ sĩ, kẻ truyền tin người đi rộn ràng đông hư mắc cửi. Sự đông đảo và nhộn nhịp của chốn phủ chúa cho thấy sự xa hoa, vượt bậc của chúa Trịnh. Một kinh thành với một cung vua một phủ chúa như thế đã gián tiếp phản ánh sự rối ren, phức tạp của xã hội Việt Nam thời vua Lê chúa Trịnh. Nó cũng cho thấy cuộc sống của nhân dân lao động dưới chế độ ấy khổ cực đến mức nào.
    3. Tóm tắt lại đoạn tả cảnh tác giả vào khám cho thế tử, chú ý các chi tiết miêu tả đội quân phục vụ, khung cảnh phủ chúa những nơi tác giả đi qua, cảnh căn phòng ở của thế tử và cảnh khám bệnh. Đặc biệt chú ý đến những chi tiết miêu tả sự xa hoa quá mức của phủ chúa: cung điện, đồ dùng, cách bài trí Đây là những chi tiết thể hiện dụng ý nghệ thuật của tác giả.
    4. Từ cổng phủ vào nơi ở của thế tử Cán, tác giả phải đi qua những nơi được canh gác rất nghiêm ngặt. Tác giả được đưa vào từ cửa sau. Trên đường vào, tác giả đã ghi lại rất cẩn thận, chi tiết khung cảnh chốn phủ chúa: qua mấy lần của rồi mới vào đến phủ, hành lang dài quanh co nối tiếp nhau, qua điếm Hậu mã, qua cửa lớn đến nhà Quyển bồng, tiếp tục qua cửa lại đến gác tía, đi qua năm sáu lần trướng gấm moiứ đén căn phòng “hương hoa ngào ngạt” của thế tử Đó quả là một cung điện bề thế, lộng lẫy hơn cả chốn cung vua, thể hiện uy quyền vượt cả vua Lê của chúa Trịnh.
    5. Thành công của đoạn trích phải kể đến giọng điệu kể chuyện rất kí sự của Lê Hữu Trác, đó là sự xen kẽ rất tự nhiên của lời kể và lời bình. Thông thường, kí là kết quả của sự kết hợp giữa tả cảnh và thể hiện tâm tư. Ở đây, tác giả chú ý nhiều đến tả cảnh, đến tường thuật sự việc. Nhưng ngay trong giọng kể có vẻ khách quan ấy đã chứa đựng những đánh giá, bình luận thể hiện thái độ của người viết. Khi tả cảnh xa hoa, đông đúc của phủ chúa, tác giả viết: Tôi nghĩ bụng: Mình vỗn con quan, sinh trưởng ở chốn phồn hoa, chỗ nào trong cấm thành mình cũng đã từng biết. Chỉ có những việc ở trong phủ chúa là mình mới chỉ nghe nói thôi. Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chua sthực hẳn khác người thường!. Khi dự bữa cơm sáng, ông viết: Mâm vàng, chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ, tôi bấy giờ mới biết cái phong vị của nhà đại gia. Ddó là nhữung câu văn thâm thúy ẩn chứa sắc thái mỉa mai của người iết đối voiứ sự xa hoa quá mức của phủ chúa. Kí của Lê Hữu Trác là kết quả của sự quan sát tinh tế, bộc lộ thái độ một cách kín đáo nhưng sâu sắc. Đó là thể văn tự sự giàu chất trữ tình.
    III. TƯ LIỆU THAM KHẢO
    " Khoảng năm Giáp Ngọ (1774), ất Mùi (1775) trong nước vô sự, Trịnh Sâm lưu ý về việc chơi đèn đuốc, thường ngự chơi các li cung ở trên Tây Hồ, núi Tử Trầm, núi Dũng Thúy; việc xây dựng đình đài khởi làm luôn mãi. Mỗi tháng ba bốn lần, Vương ngự chơi cung Thụy Liên trên bờ Tây Hồ, binh lính dàn hầu quanh bốn mặt bờ hồ, các kẻ nội thần thì đều bịt khăn, mặc áo đàn bà, dàn bày bách hóa chung quanh bờ hồ để bán.
    Thuyền ngự đi đến đâu thì các quan hỗ tụng đại thần tùy ý ghé vào bờ mua bán các hóa vật như các cửa hàng buôn trong chợ. Cũng có lúc bọn nhạc công ngồi trên gác chuông chùa Trấn Quốc, hay ngồi ở bóng cây bến đá nào đó, hòa vài khúc nhạc âm.
    Thời ấy, phàm bao nhiêu những loài trân cầm, dị thú, cổ mộc, quái thạch và chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian đều cho thu lấy, không thiếu một thứ gì. Từng thấy lấy một cây đa to, cành lá rườm rà, từ bên bắc chở qua sông đem về. Nó giống như một cây cổ thụ mọc trên đầu non hốc đá, rễ dài đến vài trượng, phải một cơ binh mới khiêng nổi, lại phải bốn người đi kèm đều cầm gươm, cầm thanh la để đốc thúc quân lính khiêng cho có điều độ. Trong phủ chúa tùy chỗ mà điểm xuyết bày vẽ ra hình núi non bộ trông như bến bể đầu non. Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻ thức giả biết là cái triệu bất tường! Kẻ hoạn quan cung giáp lại thường nhờ gió bẻ măng, ra ngoài dậm dọa. Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh, chim tốt khướu hay thì biên ngay hai chữ “phụng thủ” vào lồng chim hay chậu cây. Đêm đến, các cậu trèo qua cung tường lẻn ra, sai bọn tay chân đem lính đến lấy phăng đi, rồi buộc cho (chủ nhà) cái tội đem dìm giấu các vật cung phụng để dọa dẫm lấy tiền. Nếu hòn đá hoặc cây cối gì to lớn quá thì thậm chí phải phá nhà hủy tường để khiêng ra. Các nhà giàu có bị vu cho là đem giấu vật cung phụng, thường phải bỏ của ra kêu van chí chết, có khi phải đập bỏ núi non bộ hoặc đốt bỏ cây cảnh để tránh khỏi phải tai vạ. Nhà ta ở phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, trước nhà tiền đường có trồng một cây lê, cao vài mươi trượng, lúc nở hoa trắng xóa thơm lừng, trước nhà trung đường có trồng hai cây lựu trắng và lựu đỏ kết quả trông rất đẹp, bà cung nhân ta đều sai chặt đi cả, cũng là vì cớ ấy."
    (Phạm Đình Hổ – Việc cũ trong phủ chúa Trịnh)
    CHA TÔI

    (Trích Đặng Dịch Trai ngôn hành lục)
    Đặng Huy Trứ
    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
    1. Đặng Huy Trứ (1825-1874) hiệu là Tĩnh Trai và Vọng Tân, tự là Hoàng Trung, người làng Thanh Lương, huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Năm 1843, Đặng Huy Trứ đỗ cử nhân, năm 1848 đỗ Tiến sĩ nhưng vì phạm huý ông đã bị đánh trượt và bị tước luôn học vị cử nhân.
    2. Đặng Dịch Trai ngôn hành lục là thuộc thể loại kí, thuộc loại văn tự thuật. Tác phẩm là những trang hồi tưởng của tác giả về người cha đáng kính của Đặng Huy Trứ về cha ông là Đặng Văn Trọng (tên hiệu là Dịch Trai). Qua đó thể hiện những quan niệm về cuộc sống.
    II. RÈN KĨ NĂNG
    1. Đoạn trích lần lượt thuật lại ba sự kiện tiêu biểu, ba khúc ngoặt trên đường thi cử của nhân vật tôi (tức Đặng Huy Trứ).
    Sự kiện thứ nhất xảy ra vào mùa thu năm Quý Mão (1843), nhân vật tôi đỗ cử nhân ngay lần đầu đi thi với mục đích làm quen trường thi. Nghe tin con đỗ, một tin vui đối với cả gia tộc, dòng họ nhưng người cha lại có phản ứng thật lạ “cha tôi dựa vào cây xoài, nước mắt ướt áo” như là “gặp việc chẳng lành”. Và ông giải thích “có gì đáng vui đâu. Đỗ đạt cao là để dành cho người có phúc đức. Con tôi tính tình chưa già dặn, chưa có đức nghiệp gì . Cổ nhân đã nói “Thiếu niên đăng khoa nhất bất hạnh dã!”.
    Sự kiện thứ hai làKhoa thi Hội mùa xuân năm Đinh Mùi Nhân tứ tuần đại khánh của đức Hiến tổ Chương Hoàng đế Thiệu Trị, vua cho mở Ân khoa”. Và nhân vật tôi lại đỗ. Phản ứng của người cha là lo lắng. Không phải người cha không tin vào khả năng của con mình. Mà ông lo lắng việc đỗ đạt quá sớm và quá dễ dàng có thể sẽ gây nên thói tự mãn, kiêu ngạo, trở thành có hại đối với người con.
    Sự kiện thứ ba là hai sự việc đồng thời xảy ra trong gia đình để ngợi ca tấm lòng và nhân cách của người cha. “bác ngự y Đặng Văn Chức mất . Tôi thì vừa bị đánh hỏng trong kì thi Đình . Cả nhà lại càng buồn cho tôi”. Trước hai tin dữ ấy, Đặng Văn Trọng đau đớn trước cái chết của người anh và coi việc con trai bị đánh hỏng là “không có chuyện gì đáng kể”. Người cha đã có cách ứng xử rất hợp đạo làm người. Tấm lòng của người cha ấy được thể hiện rõ ở lời nói của ông trong phần kết đoạn trích. Khi việc tang người anh trai đã hơi thư, ông mới quay sang khuyên nhủ con trai. Lời khuyên nhủ này là tâm sự giấu kín từ nơi sâu thẳm tấm lòng người cha: “Đã vào thi Đình thì không còn đánh trượt nữa, từ đời Lê đến nay như thế lâu mà nay con lại bị đánh trượt”. Ông chỉ ra sai lầm của và khuyên nhủ con trai những lời thấu tình đạt lí.
    2. Câu trả lời của thân phụ Đặng Huy Trứ thể hiện sự khiêm tốn (Đỗ đạt cao là để dành cho người có phúc đức. Con tôi tính tình chưa già dặn, chưa có đức nghiệp gì), đồng thời thể hiện sự chín chắn của một người từng trải. Câu nói ấy đã có ngầm ý rằng: mục đích của việc thi cử không nhất thiết phải đỗ đạt để làm quan ngay. Sự đời cái gì dễ kiếm thì không được trân trọng dù nó rất quý giá. Dù là người có tài năng thực sự nhưng nếu đỗ đạt quá sớm sẽ sinh ra kiêu ngạo và tự mãn. Trong nhiều trường hợp, câu Thiếu niên đăng khoa nhất bất hạnh dã! Là đúng, bởi nhiều khi sựu đỗ đạt quá sớm, thành công quá dễ dàng khiến nhiều người sinh ra tự mãn, kiêu ngạo sinh ra chủ quan coi thường người khác.
    3. Lời khuyên nhủ của người cha đối với người con mang tính triết lí sâu sắc. Triết lí đó có thể thu gọn trong câu “Thất bại là mẹ thành công”. Ông vừa răn dạy (việc con bị đánh hỏng và tược bằng cử nhân là một lỗi lớn, khó tha thứ) vừa khuyên nhủ, an ủi con. Người cha đã giup sngười con nhận ra lỗi lầm của mình nhưng không tuyệt vọng mà có thêm nghị lực, ý chí để tiếp tục vươn lên.
    Lí lẽ và quan niệm về chuyện thi cử, về thành công và thất bại của người cha đều rất sâu sắc. Đó cũng chính là một bài học nhân sinh quý giá cho người đời sau.
    4. Ở đời, điều quan trọng không phải là thành công hay thất bại. Điều quan trọng là ta phải biết vì sao mình thất bại, từ đó rút ra bài học cho bản thân. Thành công không kiêu ngạo tự mãn, thất bại không bi quan tuyệt vọng. Phải biết mình biết ta, biết sống cho đúng mức và phải biết đứng lên sau khi ngã.
    5. Đoạn kết “Ông Phạm Văn Huy ở Thiên Lộc . sửa chữa” là một bài học nhân sinh sâu sắc. Bài học đó là: biết đứng lên sau khi ngã, nhận ra sai lầm của mình để sửa chữa là điều đáng quý nhất ở con người, nó còn quan trọng hơn cả thành công. Ông Đặng Văn Trọng đã dẫn ra các tấm gương về tinh thần vươn lên, về ý chí nghị lực để răn dạy và động viên con trai. Điều đó có ý nghĩa rất quan trọng đối với Đặng Huy Trứ trong hoàn cảnh đó.

    LUYỆN TẬP VỀ HIỆN TƯỢNG TÁCH TỪ

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
    Từ thường có cấu tạo ổn định, các tiếng trong một từ kết hợp chặt chẽ với nhau. Nhưng khi sử dụng, đối với một số từ đa âm tiết, các tiếng có thể được tách ra theo lối đan xen từ khác vào. Cách táh từ như vậy tạo nhạc điệu cho câu đồng thời nhấn mạnh được nội dung cần làm rõ.

    II. RÈN KĨ NĂNG
    1. Mặt sao dày gió dạn sương
    Thân sao bướm chán ong chường bấy thân
    a. Các từ dày dạn, chán chường được tách ra theo cách đan xen từ ngữ. Hình thức ban đầu của chúng là: dày dạn gió sương, bướm ong chán chường.
    b. Hiện tượng tách từ như trên tạo nên hai nhịp đôi, đối xứng hài hoà để nhấn mạnh điều muốn nói. Trong câu thơ này nó tạo ra khả năng thể hiện tâm trạng day dứt, đau khổ dằn vặt của nàng Kiều khi phải sống trong cảnh nhục nhã ê chề ở chốn lầu xanh.
    c. Một số ví dụ về hiện tượng tách từ: cay đắng, sa sẩy, đắn đo.
    - Quán rằng ghét việc tầm phào
    Ghét cay ghét đắng, ghét vào tận tâm
    Ghét đời Kiệt Trụ mê dâm
    Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang.
    (Nguyễn Đình Chiểu - Truyện Lục Vân Tiên)
    Làm người phải đắn phải đo
    Phải cân nặng nhẹ, phải dò nông sâu
    2. Có thể tách các cụm từ lạc xiêu hồn phách, đi về lẻ loi thành hồn xiêu phách lạc, hồn lạc phách xiêu, đi lẻ về loi, về lẻ đi loi.
    Đặt câu:
    - Bóng ma lại hiện lên làm nó sợ đến hồn xiêu phách lạc.
    - Kể từ khi người chồng lên ngựa ra chiến trường thực hiện mộng công hầu, người chinh phụ sống trong cảnh đi lẻ về loi, cô đơn chờ đợi.
    3. Đặt câu với các thành ngữ sử dụng hiện tượng tách từ:
    - Người dân quê tôi vẫn phải dãi gió dầm sương để làm ra hạt gạo.
    - Mẹ tôi là người biết đối nhân xử thế.
    4. Đi đâu mà vội mà vàng
    Mà vấp phải đá, mà quàng phải dây.
    (Ca dao)
    a. Trong câu trên, từ vội vàng đã được tách bằng cách xen thêm từ .
    b. Hiện tượng tách từ trong câu trên tạo nhịp điệu cho câu ca dao, nhấn mạnh điều muốn nói: không nên làm việc vội vàng cẩu thả.
    c. Ví dụ tương tự:
    - Dù ai nói ngả nói nghiêng
    Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân
    (Ca dao)
    - Cánh đồng nào cũng chôn vàng giấu bạc
    Bờ biển nào cũng chói ngọc ngời châu.
    (Nguyễn Bính - Bài thơ quê hương)
    - Những là rày ước mai ao
    Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình
    (Truyện Kiều – nguyễn Du)
    5. Hiệu quả diễn đạt của hiện tượng tách từ đối với các từ láy và từ ghép: AB tách thành: A với/với chả B.
    - Ăn với chả uống
    - Đi với chả đứng
    - Xinh với chả đẹp
    - Chồng với chả con, .
    Hiện tượng tách từ như trên tạo nên khả năng nhấn mạnh, khắc sâu điều muốn nói, hàm ý chê bai. Chẳng hạn:
    + Trong bữa ăn, nếu em hậu đậu đánh đổ cơm canh, mẹ em , nếu đang bực dọc, nói: " Ăn với chả uống như thế à?
    + Một đứa trẻ đi không cẩn thận nên bị ngã, người lớn sẽ trách mắng: Đi với chả đứng như thế à?
    + Sau khi thoa một chút son lên môi, mặc chiếc váy mới, cô con gái hỏi mẹ: "Mẹ thấy con gái mẹ có xinh không?" Người mẹ nói: "Xinh với chả đẹp, cô tập trung vào việc học cho tôi nhờ."

    LUYỆN TẬP PHÂN TÍCH ĐỀ, LẬP DÀN Ý
    CHO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN
    (Về xã hội)
    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
    1. Phân tích đề là xác định các vấn đề sau:
    - Nội dung trọng tâm của bài viết
    - Các thao tác lập luận chính cần sử dụng: giải thích, chứng minh, phân tích ; kết hợp các phương thức biểu đạt
    - Phạm vi tư liệu cần huy động
    2. Tìm ý là xác định các ý văn cho bài văn nghị luận
    Có thể thực hiện việc tìm ý bằng cách đặt ra các câu hỏi và tự trả lời rồi từ câu trả lời xác định ý văn. Sau đó, phân loại, sắp xếp tạo thành hệ thống ý lớn, ý nhỏ cho bài viết.
    3. Lập dàn ý là triển khai, sắp xếp các ý theo một trật tự nhất định, hình thành cấu trúc bài viết. Dàn ý của bài văn nghị luận gồm ba phần:
    a. Mở bài:
    - ý 1
    - ý 2
    b. Thân bài:
    - ý 1:
    + ý 1a:
    + ý 1a1 (nếu có)
    + ý 1a2 (nếu có)
    + ý 1b:
    + ý 1b1 (nếu có)
    + ý 1b2 (nếu có)
    - ý 2:
    +ý 2a:
    + ý 2a1 (nếu có)
    + ý 2a2 (nếu có)
    + ý 2b:
    + ý 2b1 (nếu có)
    + ý 2b2 (nếu có)

    c. Kết bài:
    - ý 1
    - ý 2
    II. RÈN KĨ NĂNG
    Các đề bài luyện tập:
    Đề 1. Trái đất sẽ ra sao nếu thiếu đi màu xanh của những cánh rừng?
    Đề 2. Các Mác nói: “Mọi tiết kiệm, suy cho cùng là tiết kiệm thời gian”. Anh (chị) hãy giải thíchlàm sáng tỏ câu nói trên.
    Đề 3. Từ văn bản Cha tôi của Đặng Huy Trứ, anh (chị) hãy phát biểu quan niệm về việc đỗ- trượt trong thi cử đối với bản thân.
    1. Phân tích đề
    Nội dung trọng tâm CÁC THAO TÁC
    lập luận chính
    Phạm vi tư liệu
    Đề 1 Vai trò của rừng trong cuộc sống. Giải thích, phân tích, chứng minh. Những dẫn chứng từ thực tế.
    Đề 2 ý nghĩa và tầm quan trọng của việc tiết kiệm thời gian. Giải thích, phân tích, chứng minh. Những dẫn chứng thực tế từ bản thân, cuộc sống.
    Đề 3 Quan niệm về việc đỗ – trượt trong thi cử đối với bản thân và tầm quan trọng của vấn đề đối với sự thành đạt của một con người. Phân tích kết hợp phương thức tự sự, biểu cảm. Văn bản Cha tôi và dẫn chứng từ thực tế bản thân, cuộc sống.
    2. Tìm ý
    Tìm ý cho các đề văn trên dựa vào các câu hỏi sau:
    Đề 1:
    1. Rừng là gì?
    (Rừng là một hệ sinh thái, trong phạm vi đề bài là các loại cây cối lâu năm trên một diện tích rộng (Rừng Amazôn, rừng lá kim, rừng U Minh, rừng Việt Bắc, )
    2. Rừng mang lại cho trái đất những lợi ích gì? (Về môi trường, kinh tế, sức khoẻ ?)
    Lợi ích của rừng: cân bằng sinh thái (Cung cấp oxi, là lá phổi xanh của trái đất, chống xói mòn, lũ lụt, ); cung cấp nhiều tài nguyên quý báu (Gỗ, thảo dược, than đá, ); tạo quang cảnh thiên nhiên trong lành, thanh bình,
    3. Thực trạng màu xanh của rừng đã và đang bị huỷ hoại, tàn phá ra sao?
    Thực trạng: diện tích rừng giảm mạnh trong nhiều năm qua (ở nước ta từ 75% diện tích xuống còn hơn 20%) do bị con người chặt phá bừa bãi, cháy rừng,
    4. Hậu quả và nguyên nhân của thực trạng trên?
    Hậu quả: mất cân bằng sinh thái (sạt lở, xói mòn đất, thủng tầng ôzôn ); tổn hại kinh tế
    Nguyên nhân: do lòng tham, sự vụ lợi của con người; do hiểu biết nông cạn, bất cẩn,
    5. Giải pháp?
    Giải pháp trước mắt: xử lí những vi phạm về bảo vệ rừng; tiến hành trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc,
    Giải pháp lâu dài: tuyên truyền, xây dựng ý thức trồng và bảo vệ rừng; hoàn thiện luật trồng và bảo vệ rừng
    6. Đóng góp của bản thân để giữ gìn màu xanh của rừng?
    Tham gia bảo vệ rừng, trồng cây gây rừng, .
    Đề 2
    1. Tiết kiệm là gì?
    Tiết kiệm là sử dụng, chi tiêu, vừa đủ, đúng mực.
    2. Tiết kiệm để làm gì? Tiết kiệm thời gian là gì? Tại sao nói: “Mọi tiết kiệm suy cho cùng là tiết kiệm thời gian”?
    Tiết kiệm để giảm tối tối đa sức lực, tiền bạc, của con người.
    Tiết kiệm thời gian là để trong thời gian ngắn nhất làm được khối lượng công việc lớn nhất từ đó tiết kiệm được sức lực tiền bạc của con người.
    Nếu biết tiết kiệm thời gian thì sẽ tiết kiệm được sức lực, làm ra được nhiều sản phẩm phục vụ cuộc sống nên có thể nói Mọi tiết kiệm suy cho cùng là tiết kiệm thời gian.
    3. Câu nói của Mác đã được thể hiện như thế nào trong cuộc sống? Ý nghĩa thực tiễn của câu nói trên trong thế giới hiện đại?
    Trong quá trình phát triển, con người không ngừng cải tiến công cụ lao động nhằm nâng cao năng suất lao động.
    Mỗi sáng kiến kinh nghiệm, mỗi phát minh đều nhằm đạt đích làm sao trong khoảng thời gian ngắn nhất có thể làm ra nhiều nhất các sản phẩm có chất lượng.
    Tiết kiệm thời gian trong mọi công việc là cách tốt nhất để năng cao chất lượng cuộc sống.
    Dẫn chứng: lao động thủ công mất hai ngày làm xong một sản phẩm; sử dụng máy móc hiện đại chỉ hai giừ làm ra mười sản phẩm; có giống lúa trồng 4 tháng mới thu hoạch, có giống lúa chỉ trồng 3 tháng đã có thể thu hoạch mà năng suất lại cao hơn, .
    Nhịp sống hiện đại đòi hỏi con người phải năng động, nhanh nhẹn, phải cùng một lúc làm được nhiều việc, . Do đó, con ngơừi trong thế giới hiện đại càng phải tiết kiệm thời gian .
    4. Mỗi người cần làm gì để tiết kiệm thời gian?
    Làm việc có kế hoạch, khoa học, luôn nỗ lực trong học tập, lao động, không lãng phí thời gian vào những việc vô bổ.
    Đề 3
    Đọc lại văn bản Cha tôi và tìm ý theo các câu hỏi sau:
    1. Nội dung của văn bản Cha tôi là gì?
    2. Quan niệm về đỗ - trượt trong thi cử của Đặng Văn Trọng là gì?
    3. Điều khác lạ, mới mẻ trong quan điểm của người cha?
    4. ý kiến của em về quan niệm trên?
    5. Quan niệm của số đông mọi người về việc đỗ - trượt trong thi cử hiện nay (theo sự hiểu biết của bản thân)?
    6. Quan niệm của bản thân?
    + Về thi cử
    + Về việc đỗ - trượt
    7. Bài học rút ra từ câu chuyện của Đặng Huy Trứ?
    3. Lập dàn ý
    Đề 1
    a. Mở bài
    - Giới thiệu khái quát về vai trò và ý nghĩa của rừng trong cuộc sống.
    b. Thân bài
    - Giá trị, lợi ích của rừng:
    + Rừng là lá phổi xanh duy trì sự sống trên trái đất
    + Rừng là kho tàng tài nguyên của quốc gia
    + Rừng là địa điểm du lịch hấp dẫn, .
    - Rừng đang bị tàn phá
    + Thực trạng: diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, diện tích đồi trọc ngày càng tăng, .
    + Nguyên nhân: bất cẩn, thiển cận, vụ lợi, .
    - Giải pháp để cứu rừng:
    + Trước mắt:
    + Lâu dài:
    c. Kết bài
    - Cảm xúc của bản thân
    - Mong ước của bản thân
    Đề 2
    a. Mở bài
    - Tiết kiệm là một vấn đề luôn được xã hội quan tâm.
    - Giới thiệu, trích dẫn câu nói của Mác: “Mọi tiết kiệm suy cho cùng là tiết kiệm thời gian”.
    b. Thân bài
    - Khái niệm tiết kiệm
    - Tiết kiệm giúp con người giảm tối đa sức lực và tiền bạc
    - Tiết kiệm thời gian là sử dụng thời gian ít nhất để làm được khối lượng công việc lớn nhất
    - Biểu hiện câu nói của Mác trong thực tế:
    + Xã hội không ngừng cải tiến công cụ lao động, KHKT
    + Mỗi cá nhân học tập, lao động không ngừng
    - Ý nghĩa thực tiễn của câu nói:
    + Tiết kiệm thời gian giúp xã hội phát triển nhanh.
    + Tiết kiệm thời gian giúp cá nhân đạt hiệu quả cao trong công việc, xây dựng nếp sống tốt.
    - Mỗi cá nhân cần tiết kiệm thời gian bằng cách:
    + Làm việc có kế hoạch, khoa học
    + Tránh hưởng thụ quá đà
    c. Kết bài
    - Tiết kiệm thời gian là một đức tính tốt đẹp của con người
    - Mỗi cá nhân cần biết sắp xếp thời gian hợp lí để tiết kiệm thời gian, mang lại hiệu quả cao nhất trong công việc
    - Tiết kiệm thời gian là cách tốt nhất để năng cao chất lượng cuộc sống.
    Đề 3
    a. Mở bài
    - Giới thiệu văn bản Cha tôi của Đặng Văn Trọng
    - Đánh giá khái quát về quan niệm đỗ - trượt của ngưới cha thể hiện trong đoạn trích.
    b. Thân bài
    - Thái độ và cách ứng xử của người cha trước các tình huống đỗ - trượt của con trai.
    + Lo lắng khi con trai đỗ đạt quá dễ dàng. Ông coi trọng việc đỗ đạt song theo ông, thi cử là quá trình khổ luyện.
    + Đau lòng khi con trai bị đánh hỏng nhưng ông vẫn tỏ ra rất bình thường để không làm con nản chí.
    - Quan niệm của người cha: việc đỗ - trượt trong thi cử là chuyện khó tránh. Đỗ đạt rất quan trọng với sự nghiệp của con người nhưng không phải là tất cả. Học để thành người tốt, người có ích chứ không phải là chỉ để làm quan.
    - Đánh giá: đây là một quan niệm rất tiến bộ và rất nhân văn.
    - Quan niệm của bản thân về đỗ - trượt trong thi cử là gì?
    + Đỗ đạt trong học hành là ước mơ và nguyện vọng của tất cả mọi người. Học tập và rèn luyện là để thi đỗ, để có việc làm tốt, để làm việc có ích; đỗ đạt không được kiêu căng.
    + Nhưng nếu trượt thì cũng không nản. Đỗ đạt và học cao không phải là con đường duy nhất. Học để làm người chứ không phải chỉ để làm công việc nhàn hạ hay có vị trí trong xã hội, .
    + Phê phán một số quan niệm cực đoan về đỗ trượt: Quá coi trọng việc đỗ đạt; Không có ý chí học tập và vươn lên trong cuộc sống.
    c. Kết luận
    Bài học rút ra cho bản thân.

    Hy vọng tài liệu Học tốt ngữ văn 11 nâng cao (tập một) sẽ giúp ích cho bạn
  3. #2
    H
    hongac Đang Ngoại tuyến Thành viên
    Ngày tham gia
    08-03-13
    Bài viết
    11
    khả năng trình bày vẫn chưa được đẹp, nhưng luận văn có nội dung bao quát, đầy đủ ý. good.


  4. #3
    T
    tomatos Đang Ngoại tuyến Thành viên
    Ngày tham gia
    10-04-13
    Bài viết
    80
    Chuẩn vodka men rồi.

  5. #4
    H
    Hà Đinh Đang Ngoại tuyến Thành viên
    Ngày tham gia
    06-08-13
    Bài viết
    1
    Tài liệu này tham khảo được.


  6. #5
    M
    Mai Mèo Đang Ngoại tuyến Thành viên
    Ngày tham gia
    06-08-13
    Bài viết
    27



  7. #6
    M
    mt.begs97 Đang Ngoại tuyến Thành viên
    Ngày tham gia
    19-08-13
    Bài viết
    1
    Tìm mãi mới thấy bài mẫu. Cảm ơn vDOC.vn nhiều.


  8. #7
    H
    hamycl Đang Ngoại tuyến Thành viên
    Ngày tham gia
    13-09-13
    Bài viết
    57
    Nhìn chung toàn bộ thì ổn, còn đôi chỗ phải chỉnh sửa, nhưng có thể dựa vào sườn này để hoàn thiện. Thanks bạn!


  9. #8
    H
    hamycl Đang Ngoại tuyến Thành viên
    Ngày tham gia
    13-09-13
    Bài viết
    57
    Hay!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!


  10. #9
    L
    luluway272 Đang Ngoại tuyến Thành viên
    Ngày tham gia
    20-09-13
    Bài viết
    65
    May quá có bài nộp rồi :))


  11. #10
    T
    tamhinh Đang Ngoại tuyến Thành viên
    Ngày tham gia
    03-04-13
    Bài viết
    21
    May quá có bài nộp rồi :))


Trang 1 của 2 12 CuốiCuối

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)